Trong những năm gần đây, xu hướng người gốc Việt có quốc tịch Úc về nước kết hôn ngày càng gia tăng. Luật pháp Việt Nam cho phép công dân đủ điều kiện có thể kết hôn tự do với người nước ngoài, cũng như việc di cư theo chồng/vợ sau hôn nhân. Trường hợp các gia đình có nguyện vọng đoàn tụ tại ÚC, Cơ quan Di trú và Lãnh sự quán sẽ có trách nhiệm kiểm tra nhân thân của đương đơn , đánh giá tính hợp pháp và trung thực của hôn nhân. Chính phủ Úc cấp visa nhập cư đoàn tụ gia đình, và sau đó công nhận tư cách thường trú nhân cho hôn phối quốc tịch nước ngoài dựa trên nguyên tắc nhân đạo, vì thế họ hoàn toàn có thể từ chối visa nếu phát hiện sai phạm, thiếu trung thực trong hồ sơ đương đơn. Thông thường các quy định về di trú được chỉnh sửa vào tháng 7 hàng năm để phù hợp với tình hình mới, và có hiệu lực 1 tháng sau đó.

Hiện tại Cơ quan Di trú Úc có những quy định thêm liên quan tới cá nhân quốc tịch Úc ( hoặc thường trú nhân tại Úc , hoặc công dân New Zealand đang sinh sống hợp pháp tại Úc ) có nguyện vọng bảo lãnh cho vợ/chồng :

-  Hôn phối quốc tịch Úc ( hoặc thường trú nhân tại Úc , hoặc công dân New Zealand đang sinh sống hợp pháp tại Úc ) chưa bảo lãnh quá 2 người khác vào Úc theo diện hôn thê

-  Hôn phối quốc tịch Úc ( hoặc thường trú nhân tại Úc , hoặc công dân New Zealand đang sinh sống hợp pháp tại Úc ) chưa bảo lãnh cho ai khác (theo  diện hôn thê ) hay chính mình là người được bảo lãnh theo diện hôn thê trong 5 năm trở lại đây.

Chương trình cấp visa hôn thê  cũng như tư cách thường trú nhân cũng có những quy định cụ thể trong thời gian người được bảo lãnh đã sang Úc sinh sống :

Không bắt buộc phải làm thủ tục đăng ký kết hôn tại Việt Nam , nhưng bắt buộc phải ấn định thời điểm dự định hôn nhân tại Úc.

-   Với trường hợp hôn nhân không truyền thống ( ví dụ như hôn nhân đồng tính ) thì được phép hoãn thời điểm kết hôn trong vòng 9 tháng sau khi người bảo lãnh đã có visa vào Úc. Nếu vì lý do bất khả kháng ( ví dụ như tục lệ , phong tục của người Việt) mà thủ tục hôn nhân chưa được thực hiện thì Cơ quan Di trú Úc cũng sẽ xem xét quá trình hình thành mối quan hệ của hai bên, thông thường phải trên 12 tháng.

-   Trong trường hợp đã có hôn nhân hợp pháp thì người được bảo lãnh cũng chỉ sở hữu visa tạm trú trong thời gian 2 năm đầu tiên sau khi nhập cư vào Úc.Sau khoảng thời gian này, nếu hôn nhân không bị gián đoạn , hoặc người bảo lãnh không thay đổi ý định bảo lãnh thì tư cách thường trú nhân mới được công nhận.

-   Người được bảo lãnh trong thời gian đã vào Úc nhưng vẫn chưa có tư cách thường trú nhân có thể học tập và làm việc hợp pháp, được hỗ trợ trong việc hòa nhập cộng đồng.

-   Những trường hợp hôn nhân phi truyền thống, hoặc có con với công dân Úc trước hôn nhân có thể được xét theo ngoại lệ , nhưng không có tính chất bắt buộc với Cơ quan Di trú.

Người được bảo lãnh định cư có thể nộp hồ sơ xin visa di trú cho con riêng trong diện còn phụ thuộc khi có sự chấp thuận của người bảo lãnh.

Quý khách hàng có nhu cầu tìm hiểu , tư vấn vui lòng liên hệ với :

Công ty Tư vần Giáo dục Quốc tế và Dịch thuật NAM HÙNG ICOS.

Mr. Lê Nam Hùng – phone:  0913211361